Liên hệ với chúng tôi

Suggested region and language based on your location

    Your current region and language

    Male and female specialist lathe operators in steelworks
    • Blog
      Phát triển bền vững

    Chuẩn bị cho Cơ chế Điều chỉnh Biên giới Carbon (CBAM) của EU: Giải thích giai đoạn chuyển đổi 2026 - 2027

    Cách xây dựng khuôn khổ báo cáo sẵn sàng cho Cơ chế Điều chỉnh Biên giới Carbon (CBAM) nhằm bảo vệ chuỗi cung ứng của bạn

    Kể từ ngày 1 tháng 1 năm 2026, Cơ chế Điều chỉnh Biên giới Carbon (CBAM) của Liên minh Châu Âu (EU) đã chính thức bước vào giai đoạn thực thi đầy đủ, chuyển từ giai đoạn báo cáo dữ liệu chuyển tiếp sang tuân thủ các nghĩa vụ tài chính đối với các mặt hàng nhập khẩu thuộc phạm vi áp dụng.

    CBAM là gì?

    Từ tháng 1 năm 2026, các nhà nhập khẩu vào EU sẽ chịu trách nhiệm tài chính đối với lượng phát thải carbon hàm chứa trong các hàng hóa thuộc phạm vi điều chỉnh của CBAM. Nghĩa vụ này được thực hiện thông qua việc mua và nộp các chứng chỉ carbon theo quy định của cơ chế CBAM. 

    Đối với các tổ chức nhập khẩu hàng hóa thuộc phạm vi điều chỉnh của CBAM vào EU, giai đoạn 2026 - 2027 là một cột mốc chuyển đổi mang tính quyết định. Các sửa đổi được thông qua theo Regulation (EU) 2025/2083 (gói đơn giản hóa CBAM Omnibus) đã điều chỉnh các ngưỡng áp dụng, mốc thời gian và yêu cầu thủ tục nhằm giảm bớt gánh nặng hành chính, đồng thời vẫn bảo đảm các mục tiêu về tính toàn vẹn môi trường (tham khảo thông báo của Ủy ban Châu Âu tại đây). 

    Lộ trình tuân thủ giai đoạn 2026 - 2027

    Ngày 1 tháng 1 năm 2026

    Giai đoạn thực thi đầy đủ chính thức có hiệu lực. Các nhà nhập khẩu sẽ phát sinh nghĩa vụ tài chính đối với lượng phát thải carbon hàm chứa trong các hàng hóa được nhập khẩu kể từ ngày này trở đi (xem tổng quan về CBAM của Ủy ban Châu Âu).                

    Ngày 31 tháng 3, 2026

    Hạn chót đăng ký tư cách Đơn vị Khai báo CBAM được Ủy quyền (ACD) nếu tổng lượng nhập khẩu dự kiến vượt ngưỡng 50 tấn/năm. Doanh nghiệp vẫn được phép tiếp tục nhập khẩu trong thời gian chờ phê duyệt, với điều kiện đã nộp hồ sơ hợp lệ trước thời hạn này (xem Commission news reminder và trạng thái ACD).

    Giai đoạn 2026 - 2027: Chứng chỉ CBAM và cơ chế định giá

    Chứng chỉ CBAM được bán bởi các cơ quan có thẩm quyền quốc gia. Giá chứng chỉ CBAM được tính dựa trên mức giá đấu giá trung bình của Hệ thống Mua bán Phát thải của Liên minh Châu Âu (EU ETS), được xác định theo quý trong năm 2026 và theo tuần kể từ năm 2027. Các quy định chi tiết được nêu trong Tổng quan về CBAM của Ủy ban Châu Âu (European Commission) và các văn bản pháp lý liên quan đến cơ chế định giá cũng như vận hành hệ thống đăng ký CBAM trong mục Văn bản pháp luật và hướng dẫn về CBAM. 

    Ngày 30 tháng 9, 2027

    Hạn chót nộp tờ khai CBAM thường niên đầu tiên, bao gồm toàn bộ hàng hóa nhập khẩu trong năm 2026, đồng thời hoàn tất việc nộp số lượng chứng chỉ CBAM theo yêu cầu.

    Các cập nhật quy định quan trọng cho năm 2026

    • Ngưỡng 50 tấn theo khối lượng: Quy định miễn trừ theo giá trị thấp trước đây (150 EUR cho mỗi lô hàng) đã được thay thế bằng một ngưỡng miễn trừ tối thiểu (de minimis) duy nhất dựa trên khối lượng, ở mức 50 tấn cho mỗi nhà nhập khẩu trong một năm dương lịch (tính theo tổng khối lượng tịnh cộng dồn). Các nhà nhập khẩu có tổng lượng nhập khẩu hằng năm đối với sắt thép, nhôm, xi măng và phân bón không vượt quá 50 tấn sẽ được miễn các nghĩa vụ về:
      • Đăng ký tư cách Đơn vị Khai báo CBAM được Ủy quyền (ACD);
      • Nộp tờ khai CBAM thường niên;
      • Thực hiện các nghĩa vụ về chứng chỉ CBAM

    Tuy nhiên, điện năng và hydro không thuộc diện miễn trừ này và vẫn nằm trong phạm vi điều chỉnh của CBAM bất kể khối lượng nhập khẩu. Nếu ngưỡng 50 tấn bị vượt quá tại bất kỳ thời điểm nào trong năm, toàn bộ hàng hóa nhập khẩu trong năm dương lịch đó sẽ phải tuân thủ các nghĩa vụ theo CBAM (tham khảo Thông báo của Ủy ban về các biện pháp đơn giản hóa và hướng dẫn từ Thông báo về Access2Markets).   

    • Bắt buộc xác minh lượng phát thải thực tế: Kể từ ngày 1 tháng 1 năm 2026, các nhà nhập khẩu vào EU chỉ được phép sử dụng dữ liệu phát thải thực tế trong tờ khai CBAM nếu dữ liệu đó đã được một tổ chức kiểm tra xác nhận độc lập được công nhận (accredited third-party verifier) theo các nguyên tắc kiểm tra xác nhận riêng của CBAM, được xây dựng phù hợp với EU ETS. (Tham khảo: Quy định thực thi (EU) 2025/2546 – ​​nguyên tắc xác minhs và Thông báo của Ủy ban liên quan Access2Markets về việc công nhận các tổ chức kiểm tra xác nhận đối với dữ liệu phát thải thực tế.) Trong trường hợp không có dữ liệu phát thải thực tế đã được kiểm tra xác nhận, nhà nhập khẩu phải áp dụng các giá trị phát thải mặc định do Ủy ban Châu Âu quy định theo Quy định thực thi (EU) 2025/2621.                                                            

    • Cách tính phát thải theo từng ngành (phát thải trực tiếp và gián tiếp)
      Trong giai đoạn thực thi đầy đủ của CBAM, việc tính toán lượng phát thải được áp dụng khác nhau tùy theo từng nhóm hàng hóa:
      • Sắt thép: Chỉ phát thải trực tiếp được tính vào CBAM để xác định chi phí carbon và số lượng chứng chỉ CBAM phải nộp. Phát thải gián tiếp từ điện năng tiêu thụ không được tính đối với nhóm hàng hóa này.
      • Nhôm: Chỉ phát thải trực tiếp được tính vào CBAM để xác định chi phí carbon và số lượng chứng chỉ CBAM phải nộp. Phát thải gián tiếp từ điện năng tiêu thụ không được tính đối với nhôm.
      • Xi măng và phân bón: Cả phát thải trực tiếp và phát thải gián tiếp (từ điện năng tiêu thụ) đều được tính vào CBAM để xác định chi phí carbon và số lượng chứng chỉ CBAM phải nộp ngay từ khi giai đoạn thực thi đầy đủ có hiệu lực, theo các phương pháp quy định tại Phụ lục IV (Annex IV).

    Các yêu cầu này được quy định thông qua Phụ lục I, quy định về các loại hàng hóa và mã CN, và Phụ lục IV, quy định phương pháp xác định lượng phát thải carbon hàm chứa, của Quy định (EU) 2023/956. Nội dung này cũng được tóm tắt trên Cổng thông tin CBAM của Ủy ban Châu Âu. 

    Vì sao CBAM quan trọng đối với các nhà cung cấp ngoài EU

    CBAM về bản chất được vận hành dựa trên chuỗi giá trị. Mặc dù trách nhiệm pháp lý thuộc về nhà nhập khẩu tại EU (hoặc đại diện hải quan gián tiếp của họ), việc tuân thủ CBAM lại phụ thuộc vào khả năng của các nhà sản xuất ngoài EU trong việc cung cấp dữ liệu phát thải chính xác và có thể xác minh được.

    Các nhà cung cấp có khả năng cung cấp bộ hồ sơ minh chứng sẵn sàng cho hoạt động đảm bảo (assurance-ready), bao gồm phạm vi hệ thống (system boundaries), dữ liệu hoạt động, phương pháp giám sát và tài liệu kiểm tra xác nhận phù hợp với các yêu cầu của Phụ lục IV, sẽ có lợi thế cạnh tranh trên thị trường. Ngược lại, khi không có dữ liệu đã được kiểm tra xác nhận, các giá trị mặc định sẽ được áp dụng, làm gia tăng chi phí CBAM và ảnh hưởng trực tiếp đến năng lực cạnh tranh của nhà cung cấp.

    Kế hoạch hành động

    Quý I - Quý II năm 2026: Đăng ký và rà soát chuỗi cung ứng

    Theo dõi khối lượng nhập khẩu cộng dồn và nộp hồ sơ đăng ký ACD trước ngày 31/03/2026 trong trường hợp dự kiến vượt ngưỡng.

    Quý II - Quý III năm 2026: Đánh giá thực trạng

    Đánh giá dữ liệu phát thải hiện có so với các yêu cầu về giám sát và xác minh được quy định tại Phụ lục IV của CBAM (tham khảo thêm các phương pháp tính toán tại Quy định thực thi (EU) 2025/2547.         

    Quý IV năm 2026 - Quý I năm 2027: Chuẩn bị cho hoạt động kiểm tra xác nhận

    Thực hiện các đợt rà soát mức độ sẵn sàng nội bộ hoặc đánh giá thử (mock audit) trước khi làm việc với các tổ chức kiểm tra xác nhận được công nhận. (Tham khảo các nguyên tắc xác minh tại Quy định thực thi (EU) 2025/2546); và các tài liệu về vận hành hệ thống đăng ký CBAM trong Văn bản pháp luật và hướng dẫn về CBAM.)

    Quý I - Quý III năm 2027: Báo cáo và nộp chứng chỉ CBAM

    Hỗ trợ các nhà nhập khẩu tại EU trong quá trình thực hiện tờ khai CBAM thường niên đầu tiên và hoàn thành nghĩa vụ nộp chứng chỉ CBAM trước ngày 30 tháng 9 năm 2027 (Quy định (EU) 2025/2083). 

    Quản lý sự thay đổi về trách nhiệm giải trình

    CBAM đang tạo ra một thay đổi căn bản trong vai trò của dữ liệu phát thải đối với hoạt động thương mại quốc tế. Trong giai đoạn thực thi đầy đủ, lượng phát thải carbon hàm chứa không còn đơn thuần là một chỉ số phát triển bền vững mang tính tự nguyện, mà đã trở thành một yếu tố được quy định trong nghĩa vụ tuân thủ tài chính của nhà nhập khẩu tại EU. Nghĩa vụ này phụ thuộc vào dữ liệu được tạo ra từ các mắt xích thượng nguồn trong chuỗi cung ứng.

    Mặc dù trách nhiệm pháp lý đối với việc nộp tờ khai CBAM và thực hiện nghĩa vụ nộp chứng chỉ CBAM thuộc về nhà nhập khẩu tại EU (hoặc đại diện hải quan gián tiếp của họ), các nhà nhập khẩu này lại phụ thuộc đáng kể vào các nhà sản xuất ngoài EU trong việc cung cấp dữ liệu phát thải được tính toán theo các phương pháp quy định tại Phụ lục IV (Annex IV) và được xác minh bởi các tổ chức xác minh độc lập được công nhận.

    Trong trường hợp không có dữ liệu đã được kiểm tra xác nhận, nhà nhập khẩu buộc phải sử dụng các giá trị mặc định. Điều này có thể làm gia tăng chi phí CBAM và ảnh hưởng trực tiếp đến các quyết định lựa chọn nhà cung cấp. Các doanh nghiệp chủ động triển khai hệ thống giám sát phù hợp với yêu cầu của Phụ lục IV, chuẩn bị đầy đủ hồ sơ phục vụ công tác xác minh và xây dựng cơ chế trao đổi dữ liệu minh bạch với khách hàng tại EU sẽ có lợi thế hơn trong việc duy trì khả năng tiếp cận thị trường EU, nâng cao năng lực cạnh tranh trong các hoạt động mua sắm, giảm thiểu rủi ro phát sinh chi phí do áp dụng giá trị mặc định, đồng thời xây dựng niềm tin lâu dài với các đối tác mua hàng tại EU khi các yêu cầu của CBAM ngày càng được siết chặt theo thời gian.